Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Chuyển đổi số - đạo luật chuyên biệt đầu tiên điều chỉnh toàn diện hoạt động chuyển đổi số ở Việt Nam. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng pháp lý thống nhất cho tiến trình xây dựng quốc gia số.
Quang cảnh Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV - Ảnh minh họa (nguồn: Internet)
Đáng chú ý, Luật quy định tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hằng năm dành cho chuyển đổi số, thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ của Nhà nước trong thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn tới.
Theo đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), thời gian qua, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào đổi mới phương thức quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Hoạt động chuyển đổi số hiện nay được điều chỉnh bởi một số luật chuyên ngành như Luật Giao dịch điện tử, Luật Dữ liệu, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng… Tuy nhiên, các quy định pháp luật liên quan vẫn còn mang tính phân tán, chủ yếu điều chỉnh theo từng lĩnh vực riêng lẻ, chưa hình thành một khuôn khổ pháp lý thống nhất, có tính hệ thống để định hình rõ quan điểm, mục tiêu và cấu trúc tổng thể của quốc gia số. Điều này đặt ra yêu cầu cần có một luật mang tính điều phối, kết nối và dẫn dắt toàn bộ tiến trình chuyển đổi số ở tầm quốc gia.
Xuất phát từ yêu cầu đó, mục tiêu xuyên suốt của Luật Chuyển đổi số là hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển đổi số, thúc đẩy quá trình này diễn ra đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới hình thành quốc gia số. Đồng thời, Luật còn nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động trên không gian số – một không gian mới đang ngày càng mở rộng, gắn chặt với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội – cũng như tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập trong lĩnh vực chuyển đổi số.
Luật Chuyển đổi số được xây dựng theo quan điểm là luật khung, có vai trò định hướng và điều phối. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật hiện hành đã có nhiều luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chuyển đổi số. Tuy nhiên, nếu tiếp cận từ góc độ quốc gia số, các quy định này mới chỉ là những “mảnh ghép” riêng lẻ, chưa được liên kết chặt chẽ để tạo thành một bức tranh tổng thể, thống nhất. Vì vậy, Luật Chuyển đổi số ra đời nhằm kết nối các quy định chuyên ngành hiện có, đồng thời bổ sung những cấu phần còn thiếu như chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, hạ tầng chuyển đổi số và cơ chế điều phối ở cấp quốc gia. Qua đó, Luật tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực, vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của từng luật chuyên ngành.
Với tính chất là luật khung, Luật Chuyển đổi số không đi sâu quy định lại các nội dung đã được điều chỉnh trong các luật chuyên ngành, mà xác lập các nguyên tắc chung, yêu cầu thống nhất và cơ chế phối hợp, bảo đảm sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Luật gồm 8 chương, 48 điều, quy định các nguyên tắc, chính sách về chuyển đổi số; cơ chế điều phối quốc gia; các biện pháp bảo đảm chuyển đổi số; phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; cùng trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động chuyển đổi số. Đối tượng áp dụng của Luật là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động chuyển đổi số tại Việt Nam. Luật cũng xác định rõ nguyên tắc: các nội dung thuộc lĩnh vực chuyên ngành như dữ liệu, giao dịch điện tử, an ninh mạng, viễn thông… tiếp tục thực hiện theo các luật chuyên ngành tương ứng, nhưng phải bảo đảm thống nhất với các nguyên tắc và yêu cầu chung của Luật Chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò điều phối trung tâm của luật này trong hệ thống pháp luật về chuyển đổi số.
Luật Chuyển đổi số tập trung xử lý 6 nhóm vấn đề lớn, có ý nghĩa nền tảng đối với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Thứ nhất, thiết lập hành lang pháp lý thống nhất để hình thành quốc gia số, trên cơ sở kết nối hệ thống pháp luật chuyên ngành hiện hành và bổ sung các cấu phần còn thiếu, qua đó hoàn thiện cấu trúc quốc gia số. Thứ hai, xây dựng cơ chế pháp lý cho chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, khắc phục tình trạng thời gian qua các nội dung này chủ yếu được triển khai theo chủ trương, chương trình, nhưng chưa có hành lang pháp lý đầy đủ và chuẩn mực. Thứ ba, xác lập cấu trúc quản trị quốc gia về chuyển đổi số, bảo đảm sự điều phối thống nhất, hiệu quả giữa các thành phần của quốc gia số trên phạm vi toàn quốc. Thứ tư, luật hóa các nguồn lực cho chuyển đổi số, trong đó nhấn mạnh hai nguồn lực then chốt là nhân lực số và nguồn lực tài chính. Đặc biệt, quy định tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hằng năm dành cho chuyển đổi số tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm đầu tư ổn định, lâu dài cho nhiệm vụ này. Thứ năm, thiết lập cơ chế đánh giá định kỳ, công khai kết quả chuyển đổi số, đồng thời xác lập trách nhiệm báo cáo Quốc hội hằng năm về tình hình và kết quả triển khai, qua đó nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Thứ sáu, kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Công nghệ thông tin, bảo đảm sự liên tục của hệ thống pháp luật khi Luật Công nghệ thông tin hết hiệu lực cùng thời điểm Luật Chuyển đổi số có hiệu lực, không tạo ra khoảng trống pháp lý.
Luật cũng làm rõ phạm vi hoạt động chuyển đổi số, gắn chặt với quy định tối thiểu 1% ngân sách nhà nước dành cho chuyển đổi số; đặt ra nguyên tắc thiết kế và yêu cầu tối thiểu đối với nền tảng số; bổ sung cơ chế thí điểm đối với các dự án, hệ thống số mới; đồng thời quy định các biện pháp thu hẹp khoảng cách số và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với những nội dung toàn diện và các điểm mới mang tính nền tảng, Luật Chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ tạo lập hành lang pháp lý thống nhất, minh bạch và ổn định, đưa chuyển đổi số quốc gia bước sang giai đoạn triển khai đồng bộ, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả trong thời gian tới.
(https://chuyendoiso.thainguyen.gov.vn/)